Anime

ANIME

Anime trong tiếng Anh thường dùng để chỉ phong cách hoạt hình xuất phát từ Nhật Bản, chịu ảnh hưởng đậm nét từ phong cách manga (Truyện tranh Nhật Bản) và thường có những nhân vật với cặp mắt to, tóc dày, chân dài, cử chỉ cường điệu hóa, có đường cọ viền ngoài, chuyển động hạn chế, cùng vài đặc điểm riêng biệt khác.

Từ này cũng dùng cho những thể loại hoạt hình có liên quan đến Nhật Bản, cất chấp phong cách có thế nào. Từ này nguyên bản từ từ アニメ anime trong tiếng Nhật, có nghĩa chung chỉ hoạt họa, đượng phát âm trong tiếng Anh là /ˈænəˌmeɪ/ hoặc /ˈænəˌmə/ .

Bộ hoạt hình sớm nhất được biết đến của Nhật ra đời từ năm 1917, và nhiều tác phẩm hoạt họa Nhật Bản đã ra đời trong những thập kỉ ra đó, thế nhưng, phong cách anime chỉ phát triển từ những năm thập niên 1960 – đáng chú ý là các tác phẩm của Osamu Tezuka – và trở nên nổi tiếng ngoài nước Nhật từ thập niên 1980.

Anime, cũng như manga, có một lượng người xem lớn tại Nhật Bản, và được đánh giá cao ở mọi nơi trên thế giới. Các khu vực có thể phát anime qua sóng truyền hình, trực tiếp bằng video, rạp chiếu bóng, và cả trực tuyến.

Hiện nay tồn tại cả thể loại anime vẽ tay lẫn vẽ bằng máy tính. Thường phát hành quan dạng phim truyền hình dài tập, phim, video, game, thương mại hóa, và kể cả phát hành quan đường internet. Anime có nhiều thể loại, nếu không muốn nói là đủ cả các thể loại của tiểu thuyết. Anime nổi tiếng khá sớm ở Đông và Đông Nam Á, và gần đây đã trở nên ngày càng nổi tiếng trong các nước thuộc thế giới phương Tây.

Lịch sử

Anime bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỉ hai mươi, khi các nhà sản xuất phim Nhật Bản được tiếp cận với kĩ thuật hoạt họa cũng đang trong giai đoạn tiên phong mở đường tại Pháp, Đức, Hoa Kỳ và Nga. Bộ anime cổ nhất được biết đến lần đầu ra mắt năm 1917 — là một đoạn clip dài hai phút về một amurai thử kiếm mới trên đối thủ, nhưng cuối cùng bại trận.

Những người đi tiên phong đầu tiên có thể kể đến Shimokawa Oten, Jun’ichi Kouchi và Seitarō Kitayama. Vào những năm thập niên 1930, hoạt hình trở thành một dạng kể chuyện đang xen vào các chương trình hành động thực tế của Nhật. Nhưng nó chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ những nhà sản xuất ngoại quốc và dẫn đến nhiều nhà làm phim hoạt họa, nhưNoburō Ōfuji và Yasuji Murata vẫn phải làm trong những đoạn phim cutout, dù là những tác phẩm của họ có chất lượng rất cao.

Những người khác, như Kenzō Masaoka và Mitsuyo Seo, dù sao cũng tạo được tiếng nói nhất định trong lĩnh vực kĩ thuật âm thanh cho hoạt họa, đặc biệt là giúp chính phủ dùng hoạt họa trong giáo dục và tuyên truyền. Bộ anime có tiếng đầu tiên là Chikara to Onna no Yo no Naka, sản xuất bởi Masaoka vào năm 1933. Bộ hoạt hình dài đầu tiên là Momotaro’s Divine Sea Warriors, do Seo đạo diễn năm 1945 với tiền tài trợ từ Hải quân Hoàng gia Nhật Bản.

Thành công của bộ Snow White and the Seven Dwarfs năm 1937 của Mĩ đã ảnh gây nên ảnh hưởng khá lớn cho những nhà làm phim hoạt hình Nhật Bản. Vào những năm 1960, họa sĩ manga Osamu Tezuka làm phỏng theo và đơn giản hóa nhiều kỹ năng làm hoạt họa của hãng Disney để giảm chi phí và hạn chết số khung hình trong thành phẩm. Ông định dùng cách này trong thời gian trước mắt để có thể cho ra đời phim theo lịch rất kín và một đội ngũ làm phim hoạt hình không mấy kinh nghiệm.

Những năm 1970 chứng kiến sự phát triển không ngừng của manga — và nhiều trong số đó được làm thành hoạt hình sau này. Các tác phẩm của Osamu Tezuka đặc biệt gây chú ý: ông được gọi là “truyền thuyết” và “Chúa manga”. Các tác phẩm của ông – và những nhà tiên phong khác trên lĩnh vực – đã gây dựng lên ảnh hưởng cho các đặc trưng và thể loại vẫn còn là yếu tố căn bản trong anime ngày nay.

Thí dụ, thể loại robot khổng lồ (bên ngoài Nhật được biết đến với tên “Mecha”), đã định hình dưới thời Tezuka, và phát triển thành thể loại siêu robot bởi Go Nagai và những người khác, sau đó có cuộc các mạng vào cuối thập niên này bởi Yoshiyuki Tomino, người phát triển thể loại robot thực tế.

Anime về robot như Gundam và The Super Dimension Fortress Macross đã ngay lập tức trở thành kinh điển trong những năm 1980, và thể loại robot của anime vẫn là một trong những thể loại phổ biến nhất tại Nhật Bản và trên thế giới ngày nay. Trong thập niên 1980, anime được chấp nhận là một xu thế của Nhật Bản (dù ít hơn manga), và đã trải qua một cuộc bùng nổ trong những năm 1980, anime được chấp nhận nhiều hơn trên thị trường vào những năm 1990 và còn hơn thế nữa trong giai đoạn chuyển tiếp sang thế kỉ 21.

Thuật ngữ

Nhật bản viết khái “animation” (“hoạt họa”) dưới dạng katakana as アニメーション (animēshon, phát âm là [animeːɕoɴ]), và được biết đến rộng rãi hơn ở dạng アニメ (anime, đọc là [anime] trong tiếng Nhật) xuất hiện vào thập niên 1970, là một dạng từ rút gọn. Người nói tiếng Nhật dùng cả hai dạng của từ này và chúng có nghĩa tương đương, nhưng dạng ngắn hơn thường được sử dụng do có tính phổ biến cao hơn.

Cách phát âm từ anime trong tiếng Nhật, [anime], khá khác biệt so với tiếng Anh chuẩn /ˈænɪmeɪ/, ở nguyên âm và cách nhấn. (Trong tiếng Nhật, mỗi am đều nhấn như nhau). Cũng như vài từ tiếng Nhật khác, chẳng hạn saké, Pokémon, và Kobo Abé, trong văn bản tiếng Anh vẫn thường phiên cách đọc anime thành animé (như trong tiếng Pháp), để hướng người đọc đến cách phát âm đúng, không để nó thành âm câm như trong ngữ hệ tiếng Anh.

Cách sử dụng từ

Trong tiếng Nhật, từ anime không chỉ riêng biệt cho nền hoạt họa của bất kì quốc gia nào, cả về mặt nguồn gốc lẫn phong cách; mà, nó có công dụng của một khái niệm dùng để chỉ tất cả các dạng hoạt hình trên thế giới.

Từ điển tiếng Anh dịch từ anime là “phong cách vẽ hoạt hình tranh chuyển động của Nhật Bản” hoặc “một phong cách hoạt hình phát triển tại Nhật Bản”. Những tác phẩm không phải của Nhật, nhưng có mượn phong cách anime Nhật được gọi là “hoạt hình phong cách Nhật”, và không hề hiếm người không hề biết nguồn gốc của những bộ phim như vậy, và đơn giản chỉ gọi chúng là anime.

Một vài tác phẩm là kết quả của sự hợp tác giữa các công ty Nhật Bản, như hầu hết các tác phẩm của Rankin/Bass, Cartoon Network và Production I.G, IGPX hoặc Ōban Star-Racers; những người xem khác nhau có thể có, hoặc không xem chúng là anime.

Trong tiếng Anh, từ anime, được dùng nhưu một danh từ, chức năng nhưu một danh từ số nhiều (ví dụ như: “Do you watch anime?”, “How much anime have you collected?”). Tuy nhiên, trong cách sử dụng của từ cũng có xuất hiện như danh từ đếm được. Anime cũng được dùng như bỗ ngữ (“The anime Guyver is different from the movie Guyver”).

Từ nguyên

Người nói tiếng Anh trước đây xem anime là “Japanimation” (“phiem hoạt hình Nhật Bản”), nhưng định nghĩa này đã bị dùng sai. “Japanimation” được sử dụng nhiều nhất trong thời kì thập niên 1970 1980, nhưng từ “anime” bắt đầu thay thế vào giữa thập niên 1990 khi anime trở nên phổ biến rộng rãi trong khối các quốc gia nói tiếng Anh.

Nhìn chung, khái niệm này nay chỉ xuất hiện trong hồi ức. Dù từ này vốn dùng bên ngoài Nhật Bản để chi hoạt hình nhập khẩu từ Nhật, nay nó lại được dùng chủ yếu tại Nhật Bản, để chỉ nguồn hoạt hình nội địa; do từ “anime” không chỉ ra nguồn gốc quốc gia trong cách dùng của tiếng Nhật, “Japanimation” đươc dùng để phân biệt các tác phẩm của Nhật Bản với phần còn lại của thế giới.

Tại Nhật, “manga” có thể chỉ cả hoạt hình và truyện tranh (dù dùng từ “manga” để chỉ hoạt hình thì chỉ có ở những người không phải là fan). Với người nói tiếng Anh, “manga” thường chỉ có nghĩa “Truyện tranh Nhật Bản”, cũng như kiểu từ “anime” được sử dụng bên ngoài Nhật Bản. Có thể giải thích thêm là do sự nổi lên của Manga Entertainment, nhà phát hành anime tại thị trường Anh, Mĩ. Vì Manga Entertainment đặt ở Anh, từ này thường dùng phổ biến ngoài nước Nhật. Cụm từ “ani-manga” cũng được dùng để chỉ cả anime và manga.

Đồ họa nhân vật

Nhiều nhà diễn giải xem anime là một dạng nghệ thuật. Xét về mặt phương tiện đồ họa, nó mang nhiều phong cách. Phong cách có thể khác nha từ nghệ sĩ này sang nghệ sĩ khác hoặc hãng này sang hãng khác. Vài tựa anime có thể dùng phong cách FLCL, biết đến vì phong cách hoang dã và cường điệu của nó. Vài tựa khác lại dùng phương pháp khác:Only Yesterday hoặc Jin-Roh có hướng hiện thực hơn, nhấn mạnh một vài phong cách nghệ thuật; Pokemon dùng phong cánh vẽ đặc biệt không phân biệt quốc tịch của các nhân vật.

Mặc dù những bộ khác nhau, nhưng tác giả khác nhau có phong cách nghệ thuật riêng, nhiều yếu tố phong cách đã trở thành chung đến mức người ta dùng nó để phân biệt anime nói chung. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa tất cả các bộ anime hiện đại đều tuân thủ một phong cách nghệ thuật phổ biến nghiêm ngặt nào cả. Nhiều bộ anime có phong cách rất riêng so với cái được gọi phổ biến là “phong cách anime”, tuy nhiên fan vẫn dùng từ anime để chỉ những bộ này.

Nhìn chung, dạng phổ biến nhất trong lối vẽ của anime là “phóng đại vật chất như mắt to, đầu to, và chân dài… và bóng thoại, vạnh tốc, tượng thanh tượng hình. Ảnh hưởng của thư phá và hội họa Nhật cũng tạo nên những nét riêng trong phong cách anime. Bút mực truyền thống dùng để viết kanji và vẽ dùng để kẻ nhiều đường đậm nhạt khác nhau.

Anime cũng mượn nhiều yếu tố từ manga, kể cả thoại trong nền, và cách đật khung. Ví dụ, đoạn mở đầu có thể dùng khung manga để kể câu chuyện, hoặc dùng cho hiệu ứng gây cười. Một vi dụ phổ biến là bộ Kare Kano.

Tạo hình nhân vật

Sự cân đối

Cân bằng cơ thể trong anime là từ cơ thể người. Chiều cao của đầu thường dùng như đơn vị chuẩn để so sánh. Chiều cao có thể tùy biến tùy theo phần còn lại. Hàu hết nhân vật anime đều có chiều cao khoảng tám lần đầu, và người rất cao thì khoảng chín lầu đâu.

Độ cân đối này có thể thay đổi. Nhân vật siêu dị dạng có thể có cơ thể nhỏ không cân đối so với đầu. Đôi lúc, vài bộ phần cơ thể nhất định, như chân, bị làm ngắn đi hoặc dài ra để nhấn mạnh chủ ý. Hầu hết các nhân vật dị dạng đều có hai đến bốn lần chiều dài của đầu. Vài bộ anime như Crayon Shin-chan hoàn toàn không tuân thủ cân đối, đến mức gợi nhớ hoạt hình phương Tây. Để nhấn mạnh, một vài bộ phần cơ thể có thể được tăng cường.

Mắt

Gần như thông thường nhất là lối vẽ cặp mắt rất to cho nhân vật trong nhiều bộ anime và manga. Osamu Tezuka được cho là người đầu tiên dùng kĩ thuật này, ông chịu ảnh hưởng từ những nhân vật cường điệu hóa của hoạt họa Mĩ, như Betty Boop, Mickey Mouse, Bambi.

Tezuka thấy rằng mắt to có thể cho phép nhân vật của ông biểu cảm riêng biệt. Khi Tezuka bắt đầu vẽ Ribbon no Kishi, bộ manga đầu tiên nhắm đến đối tượng con gái trẻ, Tezuka đi sâu vào nhấn mạnh đôi mắt. Như vậy, thông qua Ribbon no Kishi, Tezuka đã làm nên một phong cách mà nhưng họa sĩ manga về shōjo luôn có xu hướng làm theo sau này.

Thêm màu sắc giúp cho mắt, đặc biệt là phần giác mạc có thêm chiều sâu. Chiều sau được thạo ra bằng cách đổ bóng màu. Cơ bẩn là, hỗn bóng sáng, màu nhạt, và bóng tối. Nhà văn hóa học Matt Thorn cho rằng những nhà làm phim hoạt hình và fan người Nhật không nhận thức những cặp mắt to ấy chịu ảnh hưởng ít nhiều từ nước ngoài.

Tuy vậy, không phải nhân vật anime nào cũng có mắt to. Thí dụ, các tác phẩm của Hayao Miyazaki và Toshiro Kawamoto vẫn được biết đến có những nhân vật mắt và màu tóc đều là tả thực. Thêm vào đó nhiều nhà sản xuất khác cũng dùng mắt nhỏ. Kiểu tạo hình này gần với nghệ thuật truyền thống Nhật Bản hơn. Vài nhân vật thậm chí còn có mắt bé hơn, thường chỉ là một chấm đen. Tuy nhiên, nhiều fan phương Tây vẫn quen với các cặp mắt to và chi tiết của anime.

Biểu cảm

Nhân vật anime có nhiều dạng biểu cảm để diễn tả nội tâm và suy nghĩ. Các kĩ thuật này thường có dạng hoàn toàn khác so với kĩ thuật tương úng ở hoạt họa phương Tây.

Có một vài yếu tố phổ biến trong anime, nhưng lại thường dùng trong hài hơn. Nhân vật bị sốc hay bất ngờ sẽ có “lỗi mặt”, họ có biểu cảm vô cùng cường điệu. Nhân vật nóng giận có thể có hiệu ứng gân hoặc kí hiệu stress, khi đó, những đường tượng trưng cho gân máu sẽ hiện ra trên đầu họ.

Nhân vật nữ nổi giận có thể gọi ra một cái chùy từ không khí và đập vào ai đó, dẫn đến các khái niện về kho chứa vũ khí và vật lí trong hoạt họa. Nhân vật nam sẽ chảy máu mũi khi ở cạnh bạn nữ mà anh ta thích (ngụ ý thức tỉnh, dựa theo chuyện của những bà vợ). Nhân vật xấu hổ sẽ đổ mồ hôi như tắm (một trong những điểm nhận biết dễ nhất anime) và có đường (đôi lúc nguệch ngoạc) hoặc vệt đỏ, đặc biệt được dùng để biểu lộ cảm tình. Vài bộ anime, thường là có cốt truyện chính trị, hoặc các vấn đề nghiêm túc khác, bỏ qua không sử dụng các kĩ thuật trên.

Kĩ thuật hoạt họa

Như tất cả các dạng hoạt họa, các công đoạn kịch bản, lòng tiếng, tạo hình nhân vật, sản xuất cel, và nhiều công đoạn khác vẫn được áp dụng. Với sự tiến bộ trong công nghệ máy tính, hoạt họa máy tính đã
tăng mạnh tính hiệu quả cho cả quá trình sản xuất.

Anime thường được xem là một dạng hoạt họa bị giới hạn. Điều này có nghĩa là về mặt phong cách, cả ở những tác phẩm lớn, phát minh chuyển động hạn chế vẫn đượơc sử dụng để lừa mắt người rằng có nhiều chuyển động hơn thế. Nhiều kĩ thuật được dùng là để giảm chi phí khi làm việc với vốn cấp sẵn.

Các phong cảnh trong anime nhấn mạnh vào góc nhìn ba chiều. Nền cho thấy không khí của cảnh đó. Thí dụ, anime thường nhấn mạnh vào chuyển đổi mùa., như thường thấy trong rất nhiều bộ, chẳng hạn như Tenchi Muyo!. Đôi lúc, có những cảnh thật được lồng vào anime. Cảnh nền của Melancholy of Haruhi Suzumiya dựa trên nhiều cảnh ở Nishinomiya, Hyogo, Nhật Bản.

Phân phối

Anime bắt đầu vượt ra ngoài thị trường Nhật Bản từ thập niên 1960, nó phát triển mạnh mẽ trong thời kì mở rộng thị trường, và trở thành một ngành văn hóa xuất khẩu lớn vào thập niên 1980 và 1990. Một mình thị trường anime tại Mĩ “ước đạt 4.35 tỉ đô la, theo Japan External Trade Organization”. Anime cũng rất thành công tại châu Á, châu Âu và châu Mĩ Latin, những nơi mà anime thậm chí còn phổ biến hơn ở Mĩ. Thí dụ, game về Saint Seiya vẫn được phát hành ở Châu Âu nhờ sự nổi tiếng của bộ hoạt hình thậm chí nhiều năm sau khi nó đã ngưng phát sóng.

Các công ty phân phối anime giữ bản quyền và phân phối anime ngoài nước Nhật. Anime có bản quyền được thay đổi bởi các nhà phân phối, qua hình thức lồng lại tiếng bản địa của họ và làm phụ để cho những bài hát. Cũng dùng công nghệ phân phối tương tự Hollywood, thế giới được chia làm năm vùng.

Một vài điều chỉnh văn hóa cũng có thể được thực hiện để phù hợp với những nền văn hóa ngoài Nhật Bản. Có những công ty có thể cắt bỏ vài chi tiết, để tuân thủ luật pháp nội điạ. Các điều chỉnh này trước đây rất thịnh hành (Voltron), nhưng gần đây đã bị hạn chế nhiều vì nhu cầu xem anime nguyên bản của người hâm mộ. Kiểu thay đổi nhẹ nhàng này ngày nay được nhiều người trước đây không biết nhiều về anime chấp nhận.

Kiểu dùng này được đã thu được thành công, tiêu biểu qua bộ Naruto và Adult Swim của Cartoon Network, cả hai có rất ít điều chỉnh. Robotech và Star Blazers là những công ty đầu tiên nỗ lực giới thiệu anime (vân có đôi chút điều chỉnh) với người xem truyền hình ở Bắc Mĩ mà bỏ đi các yếu tố bạo lực và người lớn.

Với sự ra đời của DVD, người ta có thể cho nhiều ngôn ngữ vào một sản phẩm. Chuyện này trước đây không thể thực hiện với VHS cassette, do phải dùng các băng VHS khác nhau, và mỗi băng thì có giá băng một đĩa DVD. Kiểu tiếp cận nhẹ nhàng cũng được dùng trong phát hành DVD, thường có kênh tiếng đôi, nguyên bản tiếng Nhật với phụ đề, không chỉnh sửa, và một bản đã lồng tiếng bản địa.

Những bộ anime được điều chỉnh để phát sóng thường sẽ được phát hành dưới dạng DVD “uncut”, với đầu đủ các cảnh. Ti vi ngày nay thường phát song anime. Tại Nhật, các đài quốc gia lớn, như TV Tokyo đều phát anime thường xuyên. Các đài khu vực bé hơn, chiếu anime dưới sóng UHF. Tại Mĩ, các kênh truyền hình cáp nhưCartoon Network, Disney, Syfy và các đài khác, dùng một số thời lượng phát sóng anime. Một vài đài, như Anime Network và FUNimation Channel, chỉ chuyên biệt chiếu anime. Đài Animax của Sony và Jetix của Disney cũng chiếu anime nhiều nước trên thế giới. Anime Central chủ yêu phát anime ở Anh.

Dù vi phạm luật bản quyền ở nhiều quốc gian, một vài fan vẫn tự chèn phụ đề cho anime. Họ gọi đó là fansub. Các vấn đề sản xuất, tiêu thụ, hoặc xem fansubs vẫn được tranh cãi dù những nhóm này không hề có lợi nhuận từ hoạt động của họ. Một khi bộ anime đã được mua bản quyền ngoài Nhật Bản, nhóm fansub thường dừng việc làm lại. Ở vài trường hợp, Media Factory Incorporated yêu cầu không được làm fansub cho sản phẩm của họ, và được cộng đồng fansub tôn trọng.Một ví dụ khác, Bandai đã cảm ơn các nhóm fansub vì vai trò giúp bộ The Melancholy of Haruhi Suzumiya nổi tiếng trong thế giới biết tiếng Anh.

Internet đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến anime ra ngoài Nhật Bản. Khoảng những năm 1990, anime vẫn khá hạn chế bên ngoài biên giới nước Nhật. Trùng hợp là, cùng với lượng người sử dụng Internet tăng cao, người hứng thú với anime cũng tăng theo. Hầu hết người hâm mộ anime là từ Internet. Sự kết hợp của cộng đồng mạng và đa dạng của cac sản phẩm anime, từ video cho đến hình ảnh, đã giúp bùng nổ fan hâm mộ. Từ khi dùng rộng rãi, lợi nhuận quảng cáo qua Internet tăng từ 1.6 tỉ Yên lên 180 tỉ Yên trong mười năm từ 1995 đến 2005.

Ảnh hưởng văn hóa

Anime đã trở thành một ngành sinh lãi ở các nước phương Tây, ngay từ khi những bộ anime thành công đầu tiên, như Astro Boy. Sự thành công từ sản phẩm sinh lợi nhiều tỉ đô la Pokémon của Nitendo đã là nhờ trợ giúp của nhiều bộ anime spin-off, phát sóng đầu tiên vào cuối thập niên 1990, và vẫn được phát sóng rộng rãi ngày nay.

Như, anime đã trở nên ảnh hưởng đến văn hóa phương Tây. Từ thế kỉ mười chín, nhiều người phương Tây đã thể hiện hứng thú nhất định đến Nhật Bản. Anime càng phổ biến văn hóa Nhật với người phương Tây. Bên cạnh anime, những mặt khác của văn hóa Nhật cũng được biết đến nhiều hơn.

Trên thế giới, người học tiếng Nhật không ngừng tăng cao. Năm 1984, kì thi Japanese Language Proficiency Test ra đời để đáp ứng nhu cầu tăng cao. Những bộ hoạt hình mang phong cách anime ý là muốn chỉ những tác phẩm không phải của Nhật, nhưng mang phong cách anime. Hầu hết chúng được làm bởi các studio ở Mĩ, Châu Âu, và các nước châu Á khác; và dùng nhiều cách tạo hình, phowng pháp, trong anime, như bộ Avatar: The Last Airbender. Thường thì, các nhà phát hành cũng là fan của anime hoặc buộc phải xem anime. Một vài người xem anime là nguồn cảm hứng cho tác phẩm của họ. Thêm vào đó. đội sản xuất người Pháp cho bộ Ōban Star-Racers còn đến Nhật để hợp tác với đội sản xuất người Nhật của Hal Film Maker. Nhìn chung đa số fan không xem chúng là anime.

Một vài bộ hoạt hình của Mĩ có đưa vào vài nét trong phong cách anime với ý trào phúng, như South Park (“Chinpokomon” và “Good Times with Weapons”). South Park có phong cách vẽ đáng chú ý, (đã được đề cập trong “Brittle Bullet”, tập năm của bộ anime FLCL, phát hành vài tháng sau khi “Chinpokomon” được công chiếu). Việc này nhằm châm biếm việc anime trở thành tiền đề cho bộ Kappa Mikey, nguyên tác của Nicktoons Network.

Thậm chí lỗi thường thấy tỏng anime cũng được nhắc đến trong vài bộ, như Perfect Hair Forever. Các hội nghị về anime ra đời từ những năm 1990, trong thời bùng nổ anime, bắt đầu với Anime Expo, Animethon, Otakon, và JACON. Hiện nay hội nghị anime được tổ chức định kì ở nhiều thành phố từ Mĩ, Châu Á, và châu Âu.

Nhiều người tham dự thực hiện cosplay, họ ăn mặc như nhân vật anime. Thêm vào đó, khách người Nhật có từ họa sĩ, đạo diễn cho đến nhóm nhạc cũng được mời. Ngoài các hội chơ anime, các âu lạc bộ anime cũng xuất hiện ở đại học, trung học và các trung tâm cộng đồng như là cách để phổ biến anime cũng như tăng thêm hiểu biết về văn hóa Nhật Bản.

Khán giả tại Mĩ và Châu Âu

Từ otaku trong tiếng Nhật được dùng trong tiếng Mĩ như định nghĩ cho fan anime, có thể nói là khá thú vị. Tính tiêu cực của từ này tại Nhật đã hoàn toàn biến mất trong tiếng Mĩ, lúc này nó lại mang nghĩ tự hào cho fan. Chỉ những thập kỉ gần đây mới có nhiều người xem đại trà ngoài lớp otaku, nhờ vào sự tiến bộ trong kĩ thuật. Ngoài ra, nhũng bộ như Pokémon và Dragon Ball Z cho trẻ em Mĩ biết về hội nghị, phương pháp hội họa, và ảnh hưởng từ đọa Shinto.

Thần thoại Nhật Bản cổ đại — thường là về đạo Shito — đã ảnh hưởng anime mạnh mẽ, nhưng hầu hết người Mĩ không biết đến anime biết rất ít về những phong tục tập quán ngoại quốc này. Thí dụ, một người Mĩ bình thường xem chương trình truyền hình về Hercules sẽ không gặp khó khăn gì với thần thoại Hi Lạp và truyền thuyết nó dựa trên, trong khi cũng người ấy xem bộ Tenchi Muyo! có thể sẽ không hiểu về đoạn dây cột quanh cây, ảnh hưởng từ truyền thuyết cổ xưa về thần Amaterasu và Susano.

Các thể loại anime

Cũng như manga, anime gồm nhiều loại khác nhau.
Action: Phim anime hành động (như Naruto)
Adventure: Phim anime phiêu lưu (như Inu Yasha)
Comedy: Phim anime hài (như School Rumble)
Demetia: Những phim thuộc thể loại này thường “điên điên” Fooly Coolly
Detective: Phim anime thám tử (như Thám tử lừng danh Conan)
Drama: Phim anime kịch (như Aria, Honey & Clover)

Hellsing, thể loại “Vampire”.
Fantasy: Phim anime có bối cảnh tưởng tượng, phép thuật (như Slayers)
Girls-with guns: Phim anime có mấy cô bắn súng (như Noir, Chrno Crusade)
Horror: Phim anime kinh dị (như Jigoku Shoujo)
Mafia: Phim anime có mafia (như Gungrave)
Samurai: Phim anime có samurai (như Rurouni Kenshin)
Sci-Fi: Phim anime viễn tưởng (như Last Exile)
Sports: Phim anime thể thao (như Captain Tsubasa)
School: Phim anime trường học (như Azumanga Daioh)
Parody: Những anime hài hước, nhái hay chọc những anime/manga khác Excel Saga
Vampire: Phim anime có quỉ hút máu (như Hellsing, Vampire Hunter D)
Bishoujo/Moe: Phim anime có các nhân vật chính là nữ, xinh đẹp (như Mai-HiME)
Bishounen: Phim anime có các nhân vật chính nam, nhưng thường được vẽ như nữ, hoặc những nhân nữ có nét đẹp nam tính (như Ran The Samurai Girl)
Mahou Shoujo: Phim anime có các nhân vật chính là nữ, có phép thuật, biến hình (như Sailor Moon)
Harem: Phim thường có một nhân vật nam không-có-điểm-gì-đặc-biệt nhưng được nhiều nhân vật nữ hâm mộ (như Love Hina, Ai Yori Aoshi, Happy Lesson, Inukami)
Shoujo: Phim anime dành cho nữ, thường thiên về tình cảm (như Fruits Basket)
Shounen: Phim anime dành cho nam, thiên về các loại như khoa học viễn tưởng, thể thao, hành động, và thường mang tính chất bạo lực (như Dragon Ball)
Kodomo: Phim anime cho trẻ em (như Damekko Doubutsu)
Seinen: Phim anime dành cho lứa tuổi thanh niên, trung niên (như Akira)
Mecha: Phim anime về robot hoặc máy móc (như Gundam)
Shounen ai: Phim anime về tình yêu giữa đồng tính nam, thường nhẹ nhàng (như Graviation)
Yaoi: Phim anime về tình yêu giữa đồng tính nam, có thể có cảnh sex
Shoujo ai: Phim anime về đồng tính nữ, thường nhẹ nhàng (như Strawberry Panic!)
Yuri: Phim anime về đồng tính nữ, thường nhẹ nhàng, có thể có cảnh sex (như Kannazuki no Miko)
Ecchi: Phim anime thường có những cảnh hở hang để gây cười, dụ khán giả, nhưng không có cảnh sex (như Mahoromatic)
Hentai: Phim anime bao gồm sex (cấm trẻ em dưới 18 tuổi) (như La Blue Girl)

Những hãng sản xuất Anime nổi tiếng
Sunrise
GAINAX
Studio Ghibli
GONZO
Bee Train
J.C. Staff
Studio DEEN
BONES
Bandai Visual
Toei Animation
Kyoto Animation
XEBEC
MADHOUSE
Group TAC
GENCO
Pioneer
SHAFT
Studio Comet
Nomad
Manglobe
SOFTX
Victor Entertainment
Ufotable Zippers

Trích:

http://en.wikipedia.org/wiki/Anime

HÃY NÓI GÌ ĐI MÀ !!!! TT~TT ----------- Emo: щ(゚Д゚щ) | (屮゚Д゚)屮 | \("▔□▔)/ | (╬ ̄皿 ̄)凸 | (╯‵□′)╯︵┻━┻ | ಠ_ಠ | (≧∇≦)/ | (*´▽`*) | ( ̄ー ̄) | (●^o^●) | (~_~メ) |

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

The Baking Cat

When life is bitter, make it swetter

site tư vấn thành lập công ty - thành lập doanh nghiệp online mới nhất

Dịch vụ thành lập công ty - thành lập doanh nghiệp chuyên tư vấn đầy đủ các thủ tục thành lập công ty - thành lập doanh nghiệp luôn mang đến sự hài lòng tuyệt đối đến Quý khách hàng

Petit.amour1503

Cho người yêu dấu - For the ones you love

Ivanizzac's Family Blog

Just another WordPress.com weblog

VŨ HOA CÁC

CÁC TRUNG ĐẾ TỬ KIM HÀ TẠI HẠM NGOẠI TRƯỜNG GIANG KHÔNG TỰ LƯU

Green Future of Children

Paint the green. Draw the future

DVD Effortless English|Đĩa Effortless English|Dia Effortless English

Effortless English- dvd effortless english-bán đĩa effortless english

R e a d i n g ~ C a f e

Reading a book is like re-writing it for yourself.

Bếp Rùa ♥ Hơi ấm gia đình tỏa ra từ gian bếp nhỏ

Luôn luôn đỏ lửa ♥ Nồng ấm yêu thương

Sa Mộc Thảo

Giữa đỉnh loạn thế cuồng phong, cười thay thiên hạ. Về thưở phồn hoa, cùng ai tay trong tay, sánh vai lặng lẽ.

Mộ Bức 清少白

CHU TƯỚC HỢP ĐÔNG ~ NGỒI Ở BẮC, NGOẢNH NHÌN NAM ĐỂ CHIÊU DỤ THIÊN HẠ!

Fang Cao Ruan

devoured soul wandering at night on the cold desert

HOÀNG KIM CÁC

Phong vũ nhất bôi tửu giang sơn vạn lý tâm ~ Sắp thi tự nhiên não bộ ko cho yên lặng đọc sách QAQ

Tiệm bánh miakatama05

I thought after yesterday there was going to be a tomorrow. I forgot today. I thought about you. I forgot you are gone.

MaNgA, mUsIc AnD aNiMe (Ad perpetuum/everlasting)

this is what making the word amusing

Hoc Tieng Nhat online – tự học tiếng nhật trực tuyến

Chốn dừng chân của gió.......=v=.....

Lâm Phong

.:Đại mộng bất giác tỉnh:.

%d bloggers like this: